2011-09-13

Bút Chiến Phan Văn Trị và Tôn Thọ Tường

Văn nghiệp mà Phan Văn Trị để lại không nhiều. Qua bao phen binh lửa di văn của ông hiện còn ngót trăm bài thơ, một ít câu đối. Nhưng chỉ với bấy nhiêu thôi cũng đủ cho chúng ta hiểu thấu tấm lòng luôn luôn đau đáu nỗi niềm :
                Chưa trả thù nhà, đền nợ nước
                Dám đâu mắt lấp lại tai ngơ.
                              (Tự thuật – Bài II)
Gần như toàn bộ tác phẩm của ông đều toát lên một tinh thần như vậy. Những gì ông thấy, những gì ông nghe, chứng kiến đều được bày tỏ trong thơ với một tâm sự “ dõi theo người trước giữ năm hằng”. Ông dùng ngòi bút của mình chiến đấu cho lẽ phải, cho nhân nghĩa, cho cái chân, cái thiện của cuộc đời, cho vận mệnh của nước và hạnh phúc của dân. Ông thẳng tay đả phá cái ác, cái giả, đả phá những gì chướng tai gai mắt, đả phá những bọn đục khoét dân lành, những kẻ xâm lấn đất nước. Ngòi bút của ông vì lẽ đó là một ngòi bút chiến đấu, góp cho dòng văn chương thời thế cuối thế kỷ XIX một tiếng nói riêng trong bản hùng ca của một thời đại "oanh liệt và đau thương" (1).
Phan Văn Trị đậu cử nhân năm mười chín tuổi (1849), ở cái tuổi đang mở ra bao hi vọng về công danh sự nghiệp. Lẽ ra ở cái tuổi đời đang náo nức ấy, theo thói thường ông sẽ tiến thân bằng con đường quan trường. Nhưng khác với nhiều người, vừa thi đỗ xong, ông liền tìm nơi ẩn thân dạy học. Phải chăng ông ẩn thân để bày tỏ một thái độ ? Trong hành động này chắc chắn là có nỗi bất bình của ông với triều đình về việc triều đình đã đối xử thậm tệ với gia đình và dòng họ ông. Chẳng là ông đã từng làm thơ ngụ ý trách triều đình đó sao ! Trong bài Hột lúa ông viết :
Vì thế liều mình cơn nước lửa
Ai mà có thấu hỡi ai ơi !
Đọc hai câu thơ này, Phan Thanh Giản đã phê “Nhữ hà trách triều đình chi thậm” (Sao nhà ngươi trách triều đình lắm thế). Nhưng có lẽ phần lớn hơn là ông đã nhận ra bản chất đích thực của chế độ vua quan triều Nguyễn. Nhiều tài liệu cho chúng ta biết rằng khi còn trẻ, sống ở Cố đô Huế, một hôm nhân đứng chơi bên bờ sông Hương nhìn thấy người lặn mò ốc nổi lên bị rong vấn cổ, ông đã ứng khẩu đọc luôn hai câu thơ :
Phú quý Trường An rong vẫn cổ
Phong lưu kinh địa chấy đầy đầu (2).
Thơ là ứng khẩu, nhưng là ứng khẩu trên cơ sở đã chiêm nghiệm, nghiền ngẫm. “Phú quý Trường An”, “Phong lưu kinh địa” rút cục cũng chỉ là những nơi nhơ bẩn. Vị lẽ này mà con người suốt đời “nong nả dốc vun nền đạo nghĩa” như Phan Văn Trị đã tìm cách lẩn tránh.
Ngòi bút của Phan Văn Trị cũng cho chúng ta biết rằng ông đã nhìn thấy “cái nhà dột từ nóc” của triều đình nhà Nguyễn. Ông cho rằng vua bây giờ không phải như Lương Võ Đế ngày xưa. Những anh hùng hào kiệt hãy sớm lo liệu mà cứu nước, chứ không chờ mong chi được ở triều đình đâu :
Đức cả từ bi xin sớm liệu
Ngồi chờ Lương Võ thế còn lâu
(Chùa hư)
Thái độ phê phán triều đình ấy của Phan Văn Trị còn thấy biểu hiện nhiều chỗ trong thơ ca cũng như trong cuộc đời ông. Cụ Ca Văn Thỉnh trong Lời giới thiệu cuốn Thơ văn yêu nước Nam Bo còn cho chúng ta biết thêm rằng, có lần nhân ngồi uống rượu với bạn, Phan Văn Trị đã mượn chuyện ăn càn đước (một loại rùa) để đả Tự Đức với những câu như :
Trẩm càn đức chi đầu (Chém đầu càn đước)
Ẩm càn đức chi huyết (Uống huyết càn đước)
Phanh càn đức chi thi (Xé thây càn đước)
Thực càn đức chi nhục (Ăn thịt càn đước) (3).
Có thể nói ngòi bút Phan Văn Trị đã động đến những nơi thâm nghiêm nhất của triều đình nhà Nguyễn. Tuy thế ở ông hình ảnh một minh quân, một xe Châu không bao giời phai lạt. Đã có khi ông ước ao :
Xưa nay cũng một lòng sông Vị
Mơ tưởng xe Châu biếng nói năng
(Câu cá)
Rất nhiều khi ông nói đến “trung quân”, “ơn vua” :
Trai ngay thờ chúa, gái thờ chồng
(Họa “Tôn phu nhân quy Thục”)
Áo mũ ba đời ơn rất trọng
Binh qua một trận nghĩa chưa tuyền
(Cảm hoài – Bài III)
Chín tầng mưa móc gội ơn vua
(Cảm hoài – Bài IX)
Nhưng ở Phan Văn Trị hình ảnh một minh quân hay một xe Châu suy cho cùng bao giờ cũng gắn với nước non. Nói khác đi tư tưởng trung quân ở ông gắn chặt với yêu nước. Ông đã từng viết :
Những trang dụng thế dành ngơ mặt
Mấy kẻ trung quân nỡ phụ tình
Bao thủa đem về cơ thộng nhất
Ngàn thu bia tạc đấng trung trinh.
(Cảm hoài – Bài I)
Do gắn trung quân với ái quốc nên trong thơ ông có sự phê phán những triều đại không làm trọn phận sự với nước non như đã nêu ở trên. Ngòi bút chiến đấu của Phan Văn Trị đã dám phê phán một triều đại, một chế độ, nhưng thời đại đã không cho ông vượt qua giới hạn của một hệ tư tưởng. Dù không ra làm quan nhưng rút cục rồi ông cũng lại hoài vọng một xe Châu, một minh quân. Đó cũng là chỗ hạn chế trong ngòi bút chiến đấu của ông.
Có một phương châm xử thế mà Phan Văn Trị đã tuân thủ suốt cuộc đời mình một cách chặt chẽ. Ấy là phương châm “ngay vạy nẻ ra cho biết mực”. Với ông phải trái, ngay gian, người yêu nước, kẻ bán nước không thể lẫn lộn được. Ông đã từng viết “kẻ vậy, người ngay há một phen” là do vậy. Cái phương châm xử  thế này đã khiến ông tránh chốn quan trường. Cái phương châm xử thế này cũng đã dẫn ông đến cuộc bút chiến với Tôn Thọ Tường, kẻ đã đang tâm theo giặc, lại “khua môi múa mỏ” về lòng yêu nước, nghĩa đồng bào. Bút chiến với Tôn là để vạch ra kẻ vạy, người ngay. Ở đây ngòi bút Phan Văn Trị đã làm trọn sứ mệnh vẻ vang “đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”.
Khác với nhiều kẻ bán nước đương thời, Tôn là người nhiều chữ. Và y đã dùng vốn chữ nghĩa đó nhằm ngụy biện thanh minh cho hành động bán nước của mình. Tôn mượn “Tôn phu nhân quy Thục”, “Từ Thứ quy Tào”, mượn sức mạnh vật chất của Pháp... để biện bạch cho mình. Nhưng tất cả những lý lẽ ấy đều bị ngòi bút Phan Văn Trị và nhiều người đương thời như Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt... lật tẩy.
Tôn Thọ Tường viết :
Miệng cọp, hàm rồng chưa dễ chọc
Khuyên đàn con trẻ chớ thày lay
Phan Văn Trị liền đập lại :
Đừng mượn hơi hùm run nhát khỉ
Lòng ta sắt đá há lung lay.
Tôn Thọ Tường lẩn tránh trách nhiệm của mình bằng cách đổ lỗi cho thời thế :
Phải sao chịu vậy thôi thì chớ
Nhắm mắt đưa chân lỗi đạo hằng
Liền bị Phan Văn Trị quật lại :
Gió xẫng mới hay cây cỏ cứng
Dõi theo người trước giữ năm hằng
Gần như không có luận điệu nào của Tường nêu ra mà không bị đánh cho tơi bời. Dưới ngòi bút của Phan Văn Trị cái chân tướng của Tôn Thọ Tường dần dần lộ nguyên hình là kẻ “vạy”, chớ không phải người “ngay”. Đó là kẻ :
Đáy giếng trông trời trương mắt ếch
Làm người như vậy cũng rằng là
Hoặc là:
Đứa dại trót già đời cũng dại
Lựa là tuổi mới một đôi mươi.
Nhưng có lẽ cái “vạy” nhất ở Tường là bán nước, là kẻ lỗi đạo hằng, không kể gì đến liêm sĩ của một nhà Nho, mà rộng hơn là nhân cách một con người. Phận nữ nhi chỉ biết “cài trâm, sửa tráp” như Tôn phu nhân mà còn biết “vẹn câu tòng”. Ấy thế mà một người nhiều chữ như Tôn lại quên mất cái lẽ đạo hằng :
Trai ngay thờ chúa, gái thờ chồng.
Cái lòng phản trắc với nước non ấy mãi mãi Tôn và những kẻ như y không bao giờ thanh minh được, không bao giờ biện hộ được. Phan Văn Trị còn nhắn cho y biết rằng non sông thu lại thì cái mạng bán nước của những kẻ như y cũng không còn :
Ba cõi mai đầu in lại cũ
Đôi tròng trông đã thấy không ngươi.
Bút lực của Phan Văn Trị là bút lực của một tấm lòng ngay, của một tâm hồn luôn luôn đau đáu nỗi nước nhà. Dưới ngòi bút ấy bao nhiêu “xiêm áo” đẹp đẽ của lũ bán nước như Tôn Thọ Tường đã “trơ mòi” trước công luận và lịch sử.
Với Phan Văn Trị những thói hư tật xấu ở đời, những kẻ bán nước, những lũ gian tham là đối tượng mà ông đã kích không chút xót thương. Ngòi bút của ông là ngòi bút vì nghĩa “giữa đường đâu thấy bất bằng mà tha”. Ông đã chiến đấu đến tận cùng với lũ quan lại, lính tráng gian tham, nhũng nhiễu dân chúng. Nhiều bài thơ như Đồn lính trong làng, Đá cá thia thia và nhất là những bài thơ vịnh vật như Con mèo, Con trâu, Con cào cào, Con muỗi, Con cua, Con rận... phần nào nói lên điều này.
Trong thơ Phan Văn Trị bọn quan lại chỉ là đồ con muỗi, con rận hút máu hại dân :
Béo miệng chẳng thương con trẻ dại
Cành hông nào đoái chúng dân nghèo
(Con muỗi)
Chúng chỉ là đồ vô dụng :
Khéo sinh trong thế chi cho rộn
Có có không không cũng chẳng cầu
(Con rận)
Không phải ngẫu nhiên mà Phan Văn Trị lại ví bọn quan lại với con muỗi, con rận. Ở chúng có sự tương đồng về bản chất là hút máu người dân lương thiện. Ngụ ý như thế quả là đắc địa. Ngòi bút Phan Văn Trị đã vạch trần bản chất không mấy tốt đẹp của phường “hát bộ” – quan lại nước Nam. Dưới ngòi bút của ông chúng dần dần hiện ra là một lũ “đứa ghẻ ruồi, đứa lác voi” cả thôi. Chúng là một lũ vô tài bất tướng “vóc là đất cục phải là chi”. Chúng là một lũ trở ngang như cua, “nhảy lẹ” như mèo lên địa vị cao sang. Chúng chỉ là lũ “khuấy ngứa gầy dân chi khác rệp”, là bọn “nhờ hơi nước đái” hại dân, hại nước.
Với hình thức ngụ ý bao biếm, Phan Văn Trị đả rất trúng, đả rất đau bọn sâu mọt này. Con mắt nghệ thuật của ông đã nhìn chúng là bọn “không lòng” cả. Và “không lòng” nên con muỗi chỉ lo chuyện “béo miệng”, “cành hông” mà chẳng thương xót đoái hoài chi đến dân chúng. Ông táo bệ vệ xưng danh nhưng “vóc là đất cục phải là chi” (Ông táo). Suốt đời rúc mặt vào chăn “không lòng” như con rận đã đành, mà đến kẻ “ỷ lớn chân tay” như cua cũng không ruột, không gan :
Đưa mình theo nước hiềm không ruột
Lột vỏ già đời chẳng thấy gan
(Con cua)
Cái thứ bọt bèo như cào cào chỉ có hình với miệng : “Hình như châu chấu vàng pha xám, Miệng tợ chuồn chuồn thấp lại cao” (Con cào cào), đến thứ “mặt hùm” như mèo những chỉ khoe vuốt với lông (Con mèo). Ngay kẻ to thân lớn xác như trâu thì trong bụng cũng chỉ “lơ thơ ba lá sách”. Hầu hết những sự vật mà Phan Văn Trị ngụ ý với bọn quan lại đều một duộc “không lòng, không ruột” như vậy cả. Vì không lòng không ruột nên chúng “Lõ mắt không phân người phải quấy, Quơ càng chẳng lọ kẻ gian ngay” (Con cua). Với cái nhìn nghệ thuật độc đáo này, Phan Văn Trị đã vạch ra tính vô nhân của lũ quan lại tham tàn, chẳng biết thương xót đến đồng loại, sẵn sàng “trương vi so đo vài gang nước”. Những kẻ “không lòng, không ruột” ấy lại rất sẵn “miệng”, sẵn “râu”. Đến nỗi con rận “mặt mũi như vầy cũng có râu”. Sẵn “miệng” để ăn của dân, sẵn “râu” để ra oai tác quái với dân lành. Thật là đúng với bản chất sâu mọt xã hội. Có thể nói rằng đây là chỗ rất sâu sắc trong nghệ thuật châm biếm của Phan Văn Trị. Nghệ thuật ấy làm cho ngòi bút chiến đấu của ông càng trở nên sắc bén.
Với lũ quan lại hại dân, hại nước kia trong thời thế ấy ông mới chỉ đành “để mắt trừng”. Nhưng trong thơ mình ông cũng đã cảnh cáo cho chúng biết :
Sau đặng đeo hoa cùng giỡn trái
Đầu bay đái trả chớ than van !
(Kiến hôi cắn kiến vàng)
Ngày nào miễn gặp cây xơ quất
Xử tội nhà ngươi mắt chẳng nheo
(Con ruồi)
Những vần thơ hừng hực tính chiến đấu của Phan Văn Trị đã là những “cành xơ quất”, quật rất trúng, quật rất đau bọn quan lại thời bấy giờ. Đó cũng là giá trị hiện thời và cũng là giá trị vĩnh cữu của thơ ca Phan Văn Trị.
Trong cuộc đời mình Phan Văn Trị có hai lần “tránh” ! Một lần ông tránh chốn quan trường. Và lần nữa ông là một trong những người khởi xướng phong trào “tự địa” tránh sống chung với “lũ quỹ trắng” thực dân Pháp. Cả hai lần ấy càng chứng tỏ cái phương châm xử thế mà ông tuân theo suốt cuộc đời mình : “kẻ vạy người ngay há một phồn”. Ông tránh chốn xấu xa nhơ nhớp, nhưng không trốn đời. Trái lại những sự biến của cuộc đời, thăng trầm của đất nước ông đều theo sát. Nhất Tâm đã nhận xét khá đúng đắn về những hành vi này của Phan : “Phan chỉ chán lối hoạn trường, mà đối với dân với nước, đối với thời cuộc ngày một chuyển biến đôi đời, Phan luôn luôn chú tâm theo dõi. Bằng chứng là Phan đã ngụ lòng mình chan chứa ở những bài thơ ký thác, những bài thơ đã thành thật tha thiết xuất phát từ tâm hồn trí não, đã xao xuyến rung động vì nhịp tiến của thời thế, bước đi của dân tộc” (4).
Quả như vậy. Nỗi niềm với nước non thấm đẫm trong mỗi vần thơ của ông. Trong thơ Phan Văn Trị có nỗi đau của người dân mất nước. Những câu thơ của ông đọc lên thật xót xa :
Tan nhà cám nỗi câu li hận
Cắt đất thương thay cuộc giảng hòa
(Mất Vĩnh Long)
Nhìn Nam chạnh tủi cành hoa ủ
Ngó Bắc ngùi thương đám bạch vân
(Cảm hoài – Bài II)
Một nỗi nhớ khôn nguôi cháy lên trong thơ ông thật bi thiết:
Non sông cảnh cũ tình hoài vọng
Tùng cúc vườn xưa cảnh nhớ người.
(Cảm hoài – Bài VIII)
Cảnh nước mất nhà tan từ buổi “tè le kèn thổi tiếng năm ba” được vẽ lại trong thơ ông bằng một nỗi buồn da diết :
Sông sâu sóng cả thuyền câu dập
Đồng rộng hùm sa lũ chó vây
Kìa nước, nọ non cờ cuộc thế
 Đầy vơi tròn khuyết có sai rầy.
(Cảm hoài – Bài VII)
Nỗi niềm mất nước cứ trở đi, trở lại trong thơ Phan Văn Trị. Một hột lúa nơi đồng nội cũng gợi cho ông tình non nước : “Ông cha giúp nước đã ghe thủa, Dòng giống nuôi dân biết mấy đời” (Hột lúa). Một cặp cá thia thia đá nhau cũng khiến ông cảm nhận ra nỗi đau mất nước :
Thở hơi sóng gợn nhăn lòng nước
(Đá cá thia thia)
Nước non luôn luôn là nỗi canh cánh bên ông. Đọc những bài thơ về đất nước của ông chúng ta càng hiểu thêm ông. Không trách là ông đã có những lời lẽ rất nặng với những kẻ bán nước như Tôn Thọ Tường, “bởi nặng tình non nước mà sinh lòng khinh kẻ phụ tình nước non” (Nhất Tâm) đó thôi.
Viết vẽ đất nước, trong thơ Phan Văn Trị cũng có khi loé lên chút hi vọng, dù nhỏ thôi, đọc cũng ấm lòng :
Tạo hóa một bầu xoay khí vận
Đông qua xuân lại trổ màu tươi
(Cảm hoài – Bài VIII)
Nhà nước một mai xoay vận thái
Cõi Nam chung hưởng hội thăng bình
(Cảm hoài – Bài X)
Xét đến cùng cội nguồn của tính chiến đấu mãnh liệt trong thơ Phan Văn Trị chính là bắt nguồn từ nỗi niềm sâu nặng này của ông với đất nước. Nhà thơ Bảo Định Giang đã nhận xét : “Cử Trị kháng chiến chủ yếu bằng ngòi bút” (5). Quả vậy, những vần thơ lai láng tình non nước của ông, cũng như những vần thơ đả rất thẳng vào triều đình vua quan đã khích lệ lòng người không ít. Nó là ngọn lửa làm sáng hơn những tấm lòng vì nước. Ngọn lửa ấy chắc đã góp phần không nhỏ vào phong trào kháng Pháp ở Nam Bộ cuối thế kỷ trước.
Gần một thế kỷ đã qua kể từ khi Cử Trị từ giã cõi đời này. Nhưng tấm lòng của ông, thơ ca của ông, những vần thơ “lời sáng, nét cao” của tấm lòng “đá bia một tiết giữ lòng hằng” vẫn ngời ngời sáng. Cùng với nhiều người cùng thời như Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Hữu Huân, Hồ Huân Nghiệp... ngòi bút Phan Văn Trị đã góp phần làm rộng rõ một thời đại văn học vẻ vang của dân tộc ta. Ngòi bút ấy sẽ còn sức sống lầu bền trong nhiều thế hệ, sẽ còn vang vọng mãi trong mỗi chúng ta.
Nhìn lại cuộc bút chiến của PHAN VĂN TRỊ và TÔN THỌ TƯỜNG
Đoàn Hữu Hậu




( lược ghi)

Một hiện tượng hiếm hoi trong lịch sử văn học Việt Nam đó là cuộc bút chiến, xướng họa thơ giữa hai nhà Nho “yêu nước” Phan văn Trị và Tôn Thọ Tường trong thời điểm đất nước đang bị thực dân Pháp xâm lược. Cuộc bút chiến nầy đã góp phần làm phong phú nền văn học nước nhà, có thể gọi một hiện tượng “ khóang tiền vô hậu”. Việc họa thơ văn từ trước tới nay vẫn thường xảy ra trên văn đàn, nhưng họa xướng theo đúng nghĩa của nó, xem ra chỉ có Phan văn Trị và Tôn Thọ Tường. Thiết nghỉ cũng nên đưa ra đây một ví dụ, để chúng ta cùng tham khảo

Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng
Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông
Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc
Về Hán trau tria mảnh má hồng
Son phấn thà cam dày gió bụi
Đá vàng chi để thẹn non sông
Ai về nhắn với Châu Công Cẩn
Thà mất lòng anh đặng bụng chồng
( Tôn Phu Nhân quy Thục-Tôn Thọ Tường)

LỜI DẪN
Lấy tích từ truyện Tam quốc Diển nghĩa: Tôn Phu nhân là em ruột Tôn Quyền, chúa xứ Đông ngô đời Tam quốc. Vì việc tranh giành đất đai, Tôn Quyền theo kế của Châu Du tự là Công Cẩn giả bộ cầu thân với Lưu Bị vua nước Hán. Tôn Quyền mời Lưu Bị qua Giang Đông nói là gả em gái để kết tình lâng bang giao hảo, định dùng phục binh giết chết trong tiệc rượu. Am mưu sắp đặt bí mật không tiết lộ bên ngòai. Khổng Minh là quân sư của Lưu Bị biết rõ âm mưu sâu độc của Tôn Quyền liền bày kế cho Lưu Bị khi sang đất Ngô tuyên bố ầm lên là mình được Tôn Quyền mời sang gả em gái. Việc nầy thấu tai đến Ngô Quốc Thái, mẹ  của Tôn Quyền. Biết đó là mưu mô xảo quyệt, Bà cho gọi Tôn Quyền vào mắng cho một trận, rằng tại sao lại dụng kế tiểu nhân để tiếng nhơ muôn đời. Nhận thấy Lưu Bị là người đạo đức nhân hòa, bà buộc Tôn Quyền phải trọng lời hứa và quyết nhất gả con gái cho Lưu Bị. Tôn Phu nhân không rõ mưu kế của anh, vâng lời mẹ kết duyên với Lưu Bị.

Thất bại mưu kế hại Lưu Bị, Tôn Quyền định dùng quyền tước và phú quý mua chuộc Lưu Bị để cầm chân ông ở Đông ngô. Nhưng theo kế sắp sẳn của Khổng Minh và lòng cương quyết theo chồng cho trọn đạo tòng phu của Tôn Phu nhân, nên cả hai vợ chồng Lưu Bị trở về đất Hán được bình yên.

I/ TÔN THỌ TƯỜNG

Tôn Thọ Tường trú quán tại Bình Dương tỉnh Gia Định. Cháu một vị công thần nhà Nguyễn. Thuở nhỏ học ở Huế. Trượt thi Hương vào Gia Định lập “Tao Đàn Bạch Mai Thi xã” ở chùa Cây Mai. Năm 1862 ông hợp tác với Pháp được bổ nhiệm Tri Phủ Tân Bình, sau được thăng Đốc Phủ sứ. Là một người khét tiếng ăn chơi, nên được gọi là cậu Ba Tường. Ong theo viên lãnh sự Pháp ra miền bắc quan sát miền thượng du và bị bệnh chết.
           
Đọc lại tất cả thơ văn của ông, ta nhận thấy một điều ông luôn bày tỏ niềm u uất vì những tiếng khích bác của “ đồng hội.” . Ong gửi tâm sự vào mười bài tự  thán”, Tôn Phu nhân quy thục, Từ Thứ quy Tào…

Trong bài “Tôn Phu nhân quy Thục” ông đã mượn tấm lòng băn khoăn, đau khổ lưu luyến giữa Tình và Hiếu của người đàn bà quý phái nước Ngô, đau lòng ra đi theo chồng cho trọn đạo Tòng phu, qua đó để biện hộ cho lập trường “ tiến thoái lưỡng nan” của mình khi ra hợp tác với pháp. Tâm trạng đó đã được phô diễn rõ rệt trong những chữ “bịn rịn. trau tria…” Vì lúc bấy giờ nhóm Nho sỹ công kích Tôn Thọ Tường là bán nước cầu vinh… Vì vậy cho nên ông luôn phải cố gắng vạch rõ thế nào là trung thành hợp lý. Theo ông thì chính sách bảo thủ của triều đình Tự Đức và tầng lớp Nho sỹ đương thời đã đưa dân tộc vào con đường mất nước. Ngày xưa vì Tôn Quyền quá tin lời Chu Công Cẩn mà Tôn Phu nhân phải đau khổ về Thục. Thì ngày nay, Vua tôi nhà Nguyễn  cũng đã làm mất Nam Việt khiến ông phải “ dứt áo theo chồng”. Ong ra đi không phải vì lợi danh mà đeo lấy một nhiệm vụ chính trị, “quyết tâm cứu nước”

 Bài thơ nầy Tôn Thọ Tường đã mượn tâm sự của người con gái đất Giang Đông đi lấy chồng ở đất Thục, để phân trần việc ông ra hợp tác với Pháp:

Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng
Mấy chữ “ cật ngựa thanh gươm” trong câu thơ trên, tác giả làm cho ta hình dung lại cảnh Tôn Phu Nhân cầm gươm, lên ngựa lìa bỏ đất Ngô để về Kinh Châu với Lưu Bị. Những chữ nầy cũng nhắc lại việc Tôn Phu Nhân đứng ra ngăn cản quân Ngô, phá tan mưu kế của Châu Du để cứu chồng.

Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông
Hành động như thế, Tôn Phu Nhân làm theo lẽ phải, đúng với giáo lý tam tòng của đạo Nho. Danh tiết của người con gái đất Giang Đông nhờ đó được sáng chói muôn đời

Lìa ngô bịn rịn chòm mây bạc
Ra đi theo chồng để là tròn bổn phận làm vợ trong một hòan cảnh rất éo le, bảo sao Tôn Phu Nhân không nhớ đến quê hương, lìa mẹ già và người anh đáng kính để theo chồng về đất Thục. Tôn Phu Nhân không dằn được nổi nhớ nhung, luyến tiếc

Về Hán trau tria mảnh mà hồng
Trong cảnh nảo lòng ấy, nhưngTôn Phu Nhân vẫn phải lo tròn bổn phận của người “sửa túi nâng khăn” dù biết rằng đức ông chồng của mình là người thù của anh, của quê hương mình

Son phấn thà cam dày gió bụi
Đá vàng cho để thẹn non sông
Đã trao thân gửi phận cho Lưu Bị rồi thì phải “bến nước mười hai” trong nhờ đục chịu, theo chồng về đất Thục dù nhan sắc có tàn phai theo năm tháng, Tôn Phu Nhân không thể nào lỗi đạo làm vợ được

Ai về nhắn với Châu Công Cẩn
Thà mất lòng anh đặng bụng chồng

Tôn Phu nhân  lại nhắn với kẻ tạo ra cuộc tìn duyên bất ngờ ấy là Châu Công Cẩn rằng: “ Thà mất lòng anh, chớ không thể phụ nghĩa chồng” Lời lẽ nầy tuy có vẻ sống sượng, nhưng đây là lời nói với Châu Du nên không đáng trách

Tại sao Tôn Thọ Tường có thái độ cương quyết như vậy? Trong chuyến đi cùng sứ bộ Phan Thanh Giản sang Pháp điều đình về việc ba tỉnh miền đông, ông thấy Triều đình nhà Nguyễn chỉ lo bảo vệ mồ mã của bà Từ Dũ mà không lo gì cho dân chúng đang rên siết trong khói lửa của giặc Pháp. Hơn nửa ông cũng thấy sức mạnh quân sự hiện đại của Pháp. Và có ý khuyến khích phát triển văn minh kiểu phương tây.

Dùng điển tích Tôn Phu Nhân để thanh minh việc làm của mình và để giới sĩ phu đương thời hiểu rõ tâm trạng mình, Tôn Thọ Tường đã vô tình đưa ra một đề tài trái hẳn với chủ đích của ông. Dù ông cố mượn lớp “ phấn son” của người con gái đất Giang Đông “ ngàn thu rạng tiết” để bào chửa cho việc theo Pháp của ông cũng vẫn không được mọi người tán thành. Vì một lẽ rất giản dị và dễ hiểu : Tôn Phu Nhân không thể là ông Đốc Phủ Tôn Thọ Tường, dù cả hai cùng đồng họ.

Đã là kẻ sĩ, Tôn Thọ Tường tất phải hiểu rõ nhiệm vụ của bậc sĩ phu trong cơn quốc biến. Trong khi tòan dân đang nỗ lực chống xâm lăng thì họ Tộn ra hợp tác với thực dân Pháp. Muốn phân trần biện bạch với nhóm sĩ phu hiểu rõ hòan cảnh trớ trêu đã xui mình ra hợp tác với kẻ thù dân tộc thì phải nhắn nhủ cái gì khác hơn , chớ sao lại quá liều lĩnh cho rằng “ thà mất lòng anh đặng bụng chồng” (?!)

 II/ PHAN VĂN TRỊ

Phan văn Trị người tỉnh Vĩnh Long, đậu cử nhân năm 1849 nămTự Đức thứ 2 , người ta thường gọi là Cử Trị.  Khi đỗ đạt Cử Trị không ra làm quan mà lui về sống nhàn tản ở quê hương, mở trường dạy học. Trong thời gian nầy ông kết bạn tâm giao với Thủ Khoa – Bùi Hữu Nghĩa. Nhân thấy Tôn Thọ Tường không còn giữ tiết tháo của một nhà Nho chân chính, theo ra hợp tác với Pháp, Phan văn Trị dùng thơ văn đả kích thóa mạ họ Tôn. Lúc bài “Tôn Phu nhân quy Thục” vừa ra đời, ông đã thấy ngay nhược điểm của Tôn Thọ Tường và lấy ngay đề tài, thể thơ mà họa xướng nguyên văn bài thơ, hạ họ Tôn bằng ngón đòn thích đáng. Trước hết họ Phan nhận định: Tôn phu Nhân là phận gái tất phải theo trọn đạo tam tòng. Mà đã theo chồng thì luân lý Nho giáo không cho phép người đàn bà nói tới nhiệm vụ chính trị, mà phải sống theo khuôn phép người làm vợ, phải e dè lúc ra đi.
Họa lại nguyên vận bài “Tôn Phu Nhân quy Thục” của Tôn Thọ Tường, Phan văn Trị châm biếm và mỉa mai hành động ra hàng người Pháp của họ Tôn. Đứng về phương diện đạo lý Phan văn Trị tán thành việc làm của người con gái đất Giang Đông, theo chồng để vẹn đạo tòng phu, tròn danh tiết… Phan văn Trị đã xướng họa:
Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng
Phan văn Trị có dụng ý muốn cho Tôn Thọ Tường biết bà Phu Nhân họ Tôn cũng như bao nhiêu người con gái khác “ xuất giá tòng phu” thì phải “cài trâm sửa áo” chớ không thể “ cật ngựa thanh gươm”. Cử Trị đã ngầm bảo với họ Tôn : Ong đã theo về với Pháp, chịu hàng kẻ thù thì nên “ chỉnh tề khăn áo” chớ có oai vệ nỗi gì mà “ cưỡi ngựa đeo gươm”!?

Mặt ngả trời chiều biệt cõi đông
Phan văn Trị cho ta thấy Tôn Phu Nhân từ giả quê hương vào một buổi chiều tà, bị bao trùm một màu ảm đạm thê lương. Dùng những chữ “ mặt ngả trời chiều”. Tác giả muốn nói đến cảnh đau thương của dân tộc đang đắm chìm trong khói lửa chiến tranh. Cử Trị muốn cho họ Tôn  nhớ rằng người con của đất Giang Đông đã lìa quê trong một hòan cảnh đau buồn, chớ không phải được “rạng tiết gái” cũng như họ Tôn đã đang tâm theo Pháp trong khi nước non suy tàn, như vậy sao lại gọi là rạng rỡ?!

Ngút tỏa đồi Ngô un sắc trắng
Duyên vầ đất Thục đượm màu hồng
Hình ảnh những đám mây trắng vào một buổi chiều thu nắng nhạt gợi lên trong lòng người ly hương mối sầu viễn xứ. Lìa quê trong cảnh buồn bã như thế Tôn Phu Nhân chẳng bao giờ tưởng nhớ tới mẹ già và anh trai. Tác giả muốn ám chỉ việc họ Tôn theo Pháp trong lúc đất nước điêu tàn, nhân dân lầm than trước họa xâm lăng để hưởng sự vui sướng cho thân mình

Hai vai tơ tóc ngang trời đất
Một gánh cương thường nặng núi sông
Họ Phan nói thẳng với họ Tôn rằng: “ Tôn Phu Nhân đã vẹn hai vai tơ tóc” và trọn đạo thờ chồng. Còn ông, ông theo về với Pháp có giữ được “ gánh cương thường” không? Nếu không, ông đã bất trung với Vua, bất nghĩa đối với nước non, vậy còn khoe khoang đạo nghĩa làm gì nữa? Ong là người bất chính. Và khẳng định với Tôn Thọ Tường:

Anh hỡi! Tôn Quyền anh có biết
Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng

Khen Tôn Phu Nhân là người đàn bà, biết giữ tròn đạo nghĩa bao nhiêu thì họ Phan lại chê trách Tôn Thọ Tường bấy nhiêu. Tôn Thọ Tường là người đàn ông thì làm thế nào giống như trường hợp Tôn Phu Nhân được. Gái tiết hạnh phải làm tròn bổn phận người vợ hiền, trai ngay phải trọn đạo làm tôi đối với chúa. Trong lúc non sông nghiêng ngửa, Tôn Thọ Tường ra hợp tác với kẻ thù cướp nước thì sao lại gọi là “ trai ngay” được?!
Sau khi phá giải lợi dụng đề tài của Tôn Thọ Tường, Phan văn Trị còn lớn tiếng bênh vực lập trường của nhóm sĩ phu yêu nước và quan điểm  bút chiến của mình.

III/ NHẬN XÉT TÁC DỤNG

Mục tiêu của Tôn Thọ Tường là giải bày tâm sự, của Phan văn Trị là đả kích cá nhân.  Nhưng nếu nhìn xa hơn ta có thể thấy ngay đó là tiếng nói của hai lớp người trong một giới Nho sĩ: Một đàng theo tiếng gọi của tây phương, của nền văn minh cơ khí đang lần mò tìm chỗ trống ở Á châu, một đàng là tiếng nói của thành trì cổ kính, muốn giữ đúng quan điểm Nho gia, chứ không chiụ lìa bỏ vai trò lãnh đạo của mình. Anh hưởng của cuộc đấu văn nầy được phổ biến sâu đậm trong nhân gian khiến cho vai trò uy tín của nhà Nho phải một phen lung lạc.
           
Vì là một cuộc bút chiến, trong văn thơ của Tôn Thọ tường và Phan văn Trị, chúng ta thấy không còn những vẻ phù phiếm, vốn rất phổ biến trong thơ văn thời bấy giờ, lời văn đi sát thực tế hơn với mục đích phục vụ nhân sinh, thúc đẩy nề văn học sử phát triển.

Những vần thơ thời thế của Phan văn Trị và Tôn Thọ Tường đã ghi lại những dấu vết của những biến cố lịch sử trong buổi giao thời của nền văn minh Đông- Tây bắt đầu va chạm.

Cả hai ông đều dùng văn thơ để bày tỏ tâm sự và chí hướng, vì thế lời văn của hai ông có một giọng điệu chân thành, dễ rung cảm lòng ngưởi. Tạo ra một cuộc bút chiến, xướng – họa thực sự đúng theo nghĩa của nó. Một hiện tượng hiếm thấy trong nền văn học Việt Nam. Đó mới thực sự là họa thơ. Từ đó về sau, thử hỏi có ai xướng họa thơ đúng và hay hơn hai ông ?./.
Tôn phu nhân quy Thục
Tôn Thọ Tường
Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng.
Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông
Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc
về hán trao tria mãnh má hồng
Son phấn thà đem dày gió bụi
Đá vàng chi để thẹn non sông
Ai về nhắn với Chu Công Cẩn
Thà mất lòng anh đặng bụng chồng.

Phan Văn Trị
Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng
Mặt ngã trời chiều biệt cõi Đông.
Khói tỏa trời Ngô in sắc bạc
Duyên về đất Thục được màu hồng.
Hai vai tơ tóc bền trời đất
Một gánh can trường nặng núi sông
Anh hỡi Tôn Quyền anh có biết
Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng.


Xướng 1

Giang nam ba tỉnh hãy còn đây,
Trời đất xui chi đến nỗi này?
Chớp nhoáng thẳng bon dây thép kéo
Mây tuôn đẹn kịt khói tàu bay.
Xăn văn thầm tính, thương đôi chỗ,
Khấp khởi riêng lo, biết những ngày.
Miệng cọp hàm rồng chưa dễ chọc,
Khuyên đàn con trẻ chớ thày lay!

Hoạ 1

Hơn thua chưa quyết đó cùng đây,
Chẳng đã, nên ta mới thế này.
Bến Nghé quản bao cơn lửa cháy,
Cồn Rồng dầu mặc bụi tro bay.
Nuôi muông giết thỏ còn chờ thủa,
Bủa lưới săn nai cũng có ngày.
Đừng mượn hơi hùm rung nhát khỉ,
Lòng ta sắt đá há lung lay!

Xướng II

Thày lay lại chuốc lấy danh nhơ,
Ai mượn mình lo việc bá vơ?
Trẻ dại, giếng sâu, lòng chẳng nỡ,
Đường xa, ngày tối, tuổi không chờ.
Áo xiêm chán thấy xăn tay thợ,
Xe ngựa nào toan gỡ nước cờ.
Rủi rủi may may đâu đã chắc?
Miệng lằn lưỡi mối hay tai ngơ!

Hoạ II

Lung lay lòng sắt đã mang nhơ,
Chẳng xét phận mình khéo nói vơ!
Người trí mảng lo danh chẳng chói,
Đứa ngu mới sợ tuổi không chờ.
Bài hoà đã sẵn trong tay thợ,
Việc đánh hơn thua giống cuộc cờ.
Chưa trả thù nhà đền nợ nước,
Dám đâu mắt lấp lại tai ngơ!

Xướng III

Tai ngơ mắt lấp buổi tan tành,
Nghĩ việc đồi thêm hổ việc mình.
Nghi ngút tro tàn nhà đạo nghĩa,
Lờ mờ bụi đóng cửa trâm anh.
Hai bên vai gánh ba giềng nặng,
Trăm tạ chuôn trẹo một sợi mành.
Trâu ngựa dầu kêu, kêu cũng chịu,
Thân còn chẳng kể, kể chi danh!

Hoạ III

Tai ngơ sao được lúc tan tành,
Luống biết trách người chẳng trách mình.
Đến thế còn khoe danh đạo nghĩa,
Như vậy cũng gọi cửa trâm anh.
Khe sâu vụng tính dung thuyền nhỏ,
Chuông nặng to gan buộc chỉ mành.
Thân có, ắt danh tua phải có,
Khuyên người ái trọng cái thân danh.

Xướng IV

Kể chi danh phận lúc tan hoang,
Biển rộng trời cao nghĩ lại càng...
Lên núi bắt hùm chưa dễ láo,
VÀo sông đánh cá, há rằng oan.
Người giương mắt ngạo đôi tròng bạc,
Kẻ ứa gan trung bảy lá vàng.
Chiu chít thương bầy gà mất mẹ,
Cũng là gắng gỏi, dám khoe khoang!

Hoạ IV

Thân danh chẳng kể, thiệt thằng hoang!
Đốt sáp nên tro luỵ cẳhng càn...
Hai cửa trâm anh xô sấp ngửa,
Một nhà danh giáo xáo tan hoang.
Con buôn khấp khởi chưa từng ngọc,
Người khó xăn văn mới gặp vàng.
Thương kẽ đồng văn nên phải nhắc,
Dễ ta đâu dám tiếng khoe khoang.

Xướng V

Khoe khoang sức giỏi cậy tài khôn,
Múa mép khua môi cũng một phồn.
Tơ vấn cánh ruồi kinh trí nhện,
Gió đưa hơi cọp khiếp oai chồn.
Siêng lo há đợi cơm kề miệng,
Chậm tính nào ngờ nước đến trôn.
Hay dở chuyện đời còn lắm lối,
Múa men xin hãy chớ bôn chôn.

Hoạ V

Khoe khoang việc phải, mới rằng khôn,
Kẻ vạy người ngay há một phồn!
Hồng dẫu hư lông đâu sợ sẻ,
Hùm như thất thế dễ thua chồn.
Ngươi Nhan (1) xá ngại dao kề lưỡi,
Họ Khuất (2) nào lo nước đến trôn.
Tháy máy gặp thời ta sẽ động,
Muốn nên việc lớn chớ bôn chôn.

(1) Nhan Cửu Khanh đời Đường bị giặc bắt, chửi giặc, bị giặc đem cắt lưỡi vẫn không sợ
(2) Khuất Nguyên


xt:
Xướng VI

Hãy chớ bôn chôn việc cửa nhà
Sau này còn ngại nỗi đàng xa.
Ma duồng cơn ngặt lung hai trẻ,
Trời mỏn lòng thương xót một già.
Lái đã vững vàng cơn sóng lượn,
Thoi toan đan dệt luc mưa sa.
Ở đời há dễ quên đời được,
Tính thiệt so hơn cũng gọi là...

Hoạ VI

Bôn chôn cũng bởi bận vì nhà,
Dám trách người xưa chửa tính xa?
Hăm hở hãy đang hăng sức trẻ,
Chịu lòng e cũng mỏn hơi già.
Mồi thơm cá quý câu không ngạy,
Cung yếu chim cao bắn chẳng sa?
Đáy giếng trông trời giương mắt ếch,
Làm người như vậy cũng rằng là...

Xướng VII

Cũng gọi là người ắt phải lo,
Có hay chịu khó mới nên trò.
Bạc mông mênh biển cầu toan bắc,
Xanh mịt mù trời thước rắp đo.
Nước ngược chống lên thuyền một mái,
Gác cao bỏ lại sách trăm pho.
Lòng này dầu hỏi mà không hổ,
Lặng xét thầm soi cũng biết cho.

Hoạ VII

Rằng là người trí cũng xa lo,
Nhuần nhã kinh luân mới phải trò.
Ngay vạy nảy ra cho biết mực,
Thấp cao trông thấy há rằng đo.
Xe Châu nào đợi kinh năm bộ,
Níp Tống vừa đầy sách nửa pho.
Chuốc miệng khen người nên cắc cớ:
Đạo trời ghét vạy há soi cho!

Xướng VIII

Đã biết cho chưa, hỡi những người,
Xin đừng tiếc hận, chớ chê cười!
Ví dầu vật ấy còn roi dấu,
Bao quản thân này chịu dể ngươi.
Trăng giữa ba thu mây cũng tỏ,
Hoa trong chín hạ nắng càng tươi.
Khó lòng mình biết lòng mình khó,
Lòn lỏi công trình kể mấy mươi.

Hoạ VIII

Soi cho cũng biết ấy là người,
Chẳng tiếc thân danh, luống sợ cười;
Ba cõi may dầu in lại cũ,
Đôi tròng trông đã thấy không ngươi.
Ngọc lành nhiều vết coi sao lịch,
Thợ vụng ít màu nhuộm chẳng tươi.
Đứa dại chót đời, già cũng dại,
Lựa là tuổi mới một đôi mươi!

Xướng IX

Kể mấy mươi năm nước lễ văn,
Rắn dài, beo lớn, thế khôn ngăn;
Bốn đời, chung đội ơn nuôi dạy,
Ba tỉnh riêng lo việc ở ăn.
Hết sức người theo trời chẳng kịp,
Hoài công chim lấp biển không bằng.
Phải sao chịu vậy thôi thì chớ,
Nhắm mắt đưa chân lỗi đạo hằng.

Hoạ IX

Một đôi mươi uổng tính xăn văn,
Đất lở ai mà dễ dám ngăn?
Nong nả dốc vun nền đạo nghĩa,
Xốn xang nào tưởng việc làm ăn.
Thương người vì nước ngồi không vững,
Trách kẻ cầm cân kéo chẳng bằng.
Gió mạnh mới hay cây cỏ cứng,
Dõi theo người trước giữ năm hằng.

Xướng X

Đạo hằng chi trước thảo cùng ngay,
Lỗi đạo sao cho đáng mặt thầy.
Đất quét đã đành bia lỗ miệng,
Chén tràn e nỗi trở bàn tay.
Nghĩa đen dạy trẻ tranh còn lấp,
Mặt trắng xem trời cánh khó bay.
Chỉ muốn ngày nào cho được toại?
Giang san ba tỉnh hãy còn đây!

Hoạ X

Năm hằng vốn thiệt thảo cùng ngay,
Cuộc ấy ai xui khéo bận thầy.
Gặp lúc chẳng may nên ngậm miệng.
Chờ khi tháy máy sẽ ra tay.
Nổi chìm mặc thế tình dày mỏng,
Cao thấp dầu ta sức nhảy bay,
Một trận gió đưa xiêu ngã cỏ,
Hơn thua chưa quyết đó cùng đây.
xt:
Tôn Thọ Tường còn có bài Từ Thứ quy Tào như sau:

Thảo đâu dám sánh kẻ cày voi (1)
Muối xát lòng ai, nấy mặn mòi,
Ở Hán hãy còn nhiều cột cả,
Về Tào chi sá một cây còi!
Bâng khuâng nhớ mẹ khôn nâng chén,
Bịn rịn trông vua biếng giở roi.
Chẳng đặng khôn Lưu đành dại Nguỵ
Thân này xin gác ngoại vòng thoi!

(1) chỉ vua Thuấn

Bài hoạ của Phan Văn Trị

Quá bị trên đầu nhát búa voi,
Kinh luân đâu nữa để khoe mòi!
Xăn văn ruổi Nguỵ mây ùn đám,
Dáo dác xa Lưu, gió thổi còi.
Đất Hứa nhớ thân sa giọi tủi
Thành Tương mến chúa nhẹ tay roi!
Về Tào miệng ngậm như bình kín,
Trân trọng lời vàng đáng mấy thoi?

Tôn Thọ Tường lại bày tỏ tâm sự trong bài thơ Vịnh Thuý Kiều

Mười mấy năm trời nhục rửa xong,
Sông Tiền Đường đục hoá ra trong,
Mảnh duyên bình lãng còn nong nả
Chút phận tang thương lắm ngại ngùng,
Chữ hiếu ít nhiều: trời đất biết,
Gánh tình nặng nhẹ chị em chung.
Soi gương kim cổ thương mà trách,
Chẳng trách chi Kiều, trách hoá công

Phan Văn Trị lại làm thơ đối lại như sau

Tài sắc chi mi, hỡi Thuý Kiều!
Cũng thương mà trách một đôi điều:
Ví dù viên ngoại oan vu lắm,
Sao chẳng Đề Oanh sớ sách kêu?
Cái nghĩa chàng Kim tình đáng mấy,
Lượng vàng họ Mã đáng bao nhiêu!
Liêu Dương ngàn dặm xa chi đó,
Nỡ để Lâm Tri bướm dập dìu!

Tôn Phu Nhân Quy Thục
Bài Xướng Tôn Thọ Tường
Ct nga thanh gươm vn ch tòng,
Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông!
Lìa Ngô, bịn rịn chòm mây bạc,
Về Hán, trau tria mảnh má hồng
Son phấn thà cam dày gió bụi,
Đá vàng chi để thẹn non sông .
Ai về nhắn với Châu Công Cẩn :
Thà mất lòng anh, đặng bụng chồng.
                            
Bài Họa của Phan Văn Trị
Cài trâm sa áo vn câu tòng,
Mặt ngã trời chiều biệt cõi Đông.
Ngút tỏa đồi Ngô ùn sắc trắng,*
Duyên về đất Thục đượm màu hồng.
Hai vai tơ tóc bền trời đất,
Một gánh cang thường nâng núi sông
Anh hỡi ! Tôn Quyền : anh có biết ?
Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng.
Cang: cái ging ca tm lưới, ý nói Tam cang (hay Tam cương). Thường: hng có, ý nói Ngũ thường.
Cang thường là nói tắt của Tam cang và Ngũ thường.
Tam cang và Ngũ thường là phần căn bản trong Nhơn đạo của người đàn ông.
Tam cang hay Tam cương dịch là Ba giềng hay Ba mối. Tam cang gồm: Quân thần cang, Phụ tử cang, Phu thê cang.


* có sách viết :
Khói tỏa trời Ngô chen thức bạc,

Thơ Phan Văn Trị
An Giang Phong Cảnh
Lênh đênh bèo nước biết là đâu,
Đậu bến An Giang thấy những rầu.
Bảy núi mây liền chim nhíp cánh,
Ba dòng nước chảy cá vinh râu.
Có rau nội quanh dân xanh mặt,
Không trái bần khô khỉ bạc đầu.
Xem hết cảnh tình rồi nghĩ ngợi,
Thú vui chỉ có một thuyền câu.


Đi Câu
Người hỡi Nghiêm Lăng có biết chăng?
Lòng ta ý gã đố ai bằng?
Nửa cần thú vị trời trời nước,
Một sợi kinh luân gió gió trăng.
Thao lược đã đành ngàn dặm bủa,
Giang sơn tóm rốc một tay phăng.
Xưa nay cũng một lòng sông Vị,
Mơ tưởng xe Châu biếng nói năng.

                        Cảm Hoài 1
Cõi Nam chung hưởng cuộc thăng bình,
Trời đất gây nên cuộc chiến tranh,
Xe ngựa rộn ràng, xe ngựa khách,
Nước non vun quén, nước non mình.
Những trang dụng thế đành ngơ mặt,
Mấy gã trung quân nỡ phụ tình!
Bao thuở đem về cơ nhất thống?
Ngàn thu bia tạc đứng trung trinh.
                                    Cảm Hoài 2
Phong trần lắm lúc luống sầu riêng,
Biết mượn tay ai gỡ mối phiền?
Áo mũ ba đời, ơn rất trọng,
Can qua một cuộc, nghĩa chưa tuyền.
Trớ trêu, con tạo lòng đa xảo,
Tráo trở, anh hùng buổi thiếu niên!
Phất phới bụi hồng đà trải dấu,
Tâm tình chiều uốn thú hàn huyên.

                                    Cảm Hoài 3
Tay nâng, há dám một mình đây?
Kẻ Bắc người Nam bấn dạ nầy.
Thế sự lăng xăng cờ túng nước,
Nhân tình tráo chác gió rung cây.
Giao hoà, bởi sợ mưu mô cạn,
Cắt đất, vì kiêng trí lực dày.
Ướm hỏi những ai trên đất Việt,
Tấm lòng thiết thạch há như vầy?
                                    Cảm Hoài 4
Tài năng chi đó khéo trêu ngươi!
Cái phận nam nhi luống nực cười:
Ngược đậu, xuôi đi hiềm thế nước,
Sâu dầm, cạn vén, thuận tình đời.
Quan san dặm thẳng đường liền bước,
Tùng cúc vườn xưa cảnh nhớ người.
Tạo hoá một bầu xoay khí vận,
Đông qua xuân lại một màu tươi.

                                    Con Mèo
Mấy từng đài các sải chơn leo,
Nhảy lẹ chi cho bẵng giống mèo.
Chợt ngảnh mặt hùm nhìn trực thị,
Chi cho lũ chuột dám vang reo.
Vuốt nanh sẵn có vàng khoe sắc,
Vằn vện đành không bụi đóng meo
Trăm tuổi hồn dầu về chín suối,
Nhắm lông để lại giúp trò nghèo.

            Con Muỗi
Muỗi hỡi thân ngươi sướng mọi điều,
Thiếu chi chi nữa hãy còn kêu.
Giường ngà chiếu ngọc từng nương đậu,
Má phấn đào non cũng ấm yêu.
Béo miệng chẳng thương con trẻ dại,
Cảnh hồng nào đoái chúng dân nghèo.
Ngày sau hẳn gặp nhằm xơ quất,
Xử  tội nhà ngươi mắt chẳng nheo.
            Con Rận
Mặt mũi như vầy cũng có râu,
Trong đời chẳng biết dụng vào đâu.
Hêu đòi trên mão chưa nên mặt,
Lúc thúc trong chăn cứ rục đầu.
Khuấy ngứa gầy dân chi khác mọt,
Rán công béo nước chẳng bằng trâu.
Uổng sanh cho nhộn trong trời đất,
Có có không không cũng chẳng cầu.
           
                        Gia Định Thất Thủ Vịnh
hương thay đất Gia Định,
Tiếc thay đất Gia Định!

Vực thẳm nên cồn;
Đất bằng nổi sóng.

Tàu khói chạy mây tuôn sông mấy khúc, lờ lạt bến Trâu;
Dây thép giăng chớp nháng đất ngàn trùng, ngã xiêu thành Phụng.

Bờ cõi phân chia khác mắt, trông ra như quáng như mù;
Giang sơn dời đổi lạ mày, tưởng tới dường mê dường tủng.

Lớp cũ tàn, lớp mới mọc, ngổn ngang xe ngựa đất gò bằng;
Dấu trước lắp, dấu sau bồi, tan nát cửa nhà trời sấm động.

Ấm á súng rền kinh cửa bắc, hãi hùng trăm họ dứt câu ca;
Tò le kèn thổi tối trời nam, ngơ ngác năm canh không tiếng trống.

Hào kiệt tìm phương lánh mặt, sa cơ gió hạc lúc hư kinh;
Anh hùng kiếm chốn ẩn thân, sút thế nước cờ cơn lúng túng.

Từ Bến Thành trải qua chợ Sỏi, loài tanh hôi lang lệ biết bao nhiêu;
Nơi Chợ Lớn sắp tới cầu Kho, quân mọi rợ lẫy lừng khôn xiết những.

Cầu Thị Nghè cùng nơi Chợ Quán, chúa Giê-su đắc ý vênh râu;
Chúa Cẩm Đệm trải tới Cây Mai, phật Bồ Tát phải nghèo ôm bụng.

Nơi nơi nổi xóm đạo nhà thờ;
Chốn chốn lập chùa thiêng miếu thánh.

Dọc dọc ngang ngang mấy lớp, thảy đều chúng nó lâu đài;
Văn văn võ võ hai bên, nào thấy quan ta võng lọng.

Ngậm ngùi thay ba bốn làng Gò Vấp, cây cỏ khô, thân thế đều khô;
Bát ngát nhẽ mười tám thôn Vườn Trầu, hoa trái rụng, người đời cũng rụng.

Mấy dặm Gò Đen, Rạch Kiến, ngọn lửa thiêu sự nghiệp sạch không;
Đòi nơi Rạch Lá, Gò Công, trận gió quét cửa nhà trống rỗng.

Tiếng kêu oan, oan này vì nước, hồn nghĩa dân biết dựa vào đâu?
Thân liều thác, thác cũng vì vua, xương nghĩa sĩ chất đà đầy đống.

Sông suối đào, mồ xiêu mả lạc, thương thay kẻ thác chẳng nên hồn;
Đường sá đắp, cửa hai nhà tan, cực bấy người còn không nổi sống.

Sau trước vầy đàng tả đạo, dân ta đòi bữa đòi suy;
Đêm ngày ỏi tiếng Lang Sa, thế nó càng ngày càng lộng.

Cờ Thành Thang sao không thấy phất, bỏ liều con đỏ chốn chông gai;
Áo Võ Vương sao chẳng thấy cài, nỡ để dân đen trong bùn vũng.

Đầu Trung Nguyên tóc đặng còn dài, công này nhờ Chu Bá, học Xuân Thu xin chớ biếm Hoàn Công;
Tay bên tả áo kia khỏi mặc, việc ấy bởi ai, học Luận Ngữ cớ sao chê Quản Trọng?

Bóng xế dặm ngàn man mác, nước non này ai thấy chẳng buồn;
Trời chiều thuyền nhẹ lăng xăng, tình cảnh ấy lòng nào chẳng động?

Nay ta có cảm việc đời,
Vậy mới tả một bài để chúng:

"Dắng dỏi lầu Tây tiếng địch xoang,
Đoái trông thấp thoáng bóng dương tàn.
Giang sơn tám cõi êm tì báo,
Thế giới ba ngàn nổi sói lang.
Áy náy người lo ơn cúc dục,
Bâng khuâng kẻ tưởng nghĩa quân vương.
Ai về bến bắc thăm người Võ,
Hỏi cán cờ mao trải mấy sương?"

                        Hột Lúa
Giã từ đồng ruộng dạo xa chơi,
Thiên hạ ai mà chẳng biết hơi.
Cởi giáp vàng kia phơi chốn chốn,
Bày da ngọc nọ rạng nơi nơi.
Ông cha giúp nước đà ghi thuả,
Dòng giống nuôi dân biết mấy đời.
Vì thế liều mình cơn nước lửa,
Người đà có thấu hỡi nguời ơi.

            Họa Vịnh Thúy Kiều
Tài sắc chi mi, hỡi Thuý Kiều!
Cũng thương mà trách một đôi điều:
Ví dù viên ngoại oan vu lắm,
Sao chẳng Đề Oanh sớ sách kêu?
Cái nghĩa chàng Kim tình đáng mấy,
Lượng vàng họ Mã đáng bao nhiêu!
Liêu Dương ngàn dặm xa chi đó,
Nỡ để Lâm Tri bướm dập dìu!

     Thất Tỉnh Vĩnh Long

No comments:

Post a Comment